Hồn của sỏi đá

Ngôi nhà đầu tiên của con người là hang đá. Lịch sử nói chung và lịch sử kiến trúc nói riêng đều ghi nhận như vậy. Khi chưa thể tạo được những kiến trúc cho riêng mình, con người đã nương nhờ vào tự nhiên một cách rất bản năng. Đá là vật liệu đầu tiên cho kiến trúc. Về sau, con người đã biết dùng những vật liệu khác dễ chế tác hơn, như là đất, gỗ, lá… để tạo nên ngôi nhà một cách chủ động, không phải phụ thuộc vào hang đá nữa. Nhưng đó chưa phải là những kiến trúc thực sự. Kiến trúc thực sự có hình hài, có sắp đặt, có tinh thần… vẫn bắt đầu bằng đá. Khi chưa phát minh ra những cấu kiện xây dựng nhân tạo như gạch, ngói… thì đá vẫn là vật liệu chính để xây cất cả ở phương Đông và phương Tây.

Công trình Nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình)

là một tuyệt tác kiến trúc bằng đá

Những kiến trúc cổ đại, trung đại còn tồn tại đến bây giờ đa phần bằng đá. Những công trình thi gan cùng năm tháng, trơ gan cùng tuế nguyệt phải là đá. Có thể kể tới kim tự tháp ở Ai Cập, đền đài ở Hy Lạp, La Mã, thành quách ở rất nhiều nơi trên thế giới… Cụ thể hơn và gần hơn về thời gian có thể kể tới cung điện Taj Mahal ở Ấn Độ, Angkor Wat ở Campuchia… Đó là những kiệt tác kiến trúc bằng đá. Ở Việt Nam không có nhiều những công trình to lớn kỳ vĩ bằng đá, nhưng cũng có những kiến trúc bằng đá có giá trị cao ở cả góc độ nghệ thuật kiến trúc và kỹ thuật xây dựng. Có thể kể tới Nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), Tháp Bút (Hà Nội)… Công trình lớn nhất bằng đá ở Việt Nam là Thành Nhà Hồ (Thanh Hoá)

Thành Nhà Hồ, Thanh Hoá là công trình bằng đá lớn nhất ở Việt Nam

Kiến trúc bằng đá có thể to lớn, quy mô hoành tráng một cách khó tin, cũng có thể rất nhỏ bé; có thể rất xù xì thô mộc, cũng có thể chau chuốt tinh tế; có thể là công trình sử dụng với đầy đủ công năng cần thiết cho con người, cũng có thể chỉ là công trình biểu tượng thuần túy…

Những kiến trúc bằng đá luôn gợi cho người xem sự suy ngẫm nào đó, nhất là về thời gian, hay về sự nhẫn nại bền gan của chính con người…

Những kiến trúc cổ bằng đá, hiểu một cách đơn giản là đá tham gia toàn bộ vai trò của các bộ phận, cấu kiện tạo nên công trình. Đá làm kết cấu: Nền móng, cột chịu lực theo phương đứng, dầm chịu lực theo phương ngang, đá làm mái… Đá làm nên những cấu tạo của kiến trúc: Bức tường, những vòm cổng, những ô cửa, những gờ chỉ; đá làm gạch lát nền, làm bậc thang… Đá làm điêu khắc: Tượng, phù điêu, những hoa văn chạm trổ… gắn liền với kiến trúc.

Con người tiến bộ, xã hội phát triển, kiến trúc và kỹ thuật xây dựng cũng thay đổi. Trải qua hàng ngàn năm, có những kiến trúc bằng đá vẫn còn, nhưng vai trò của đá thì không như xưa nữa. Có nhiều vật liệu mới thích hợp hơn, dễ thi công hơn và quan trọng nhất là phù hợp với tính chất càng ngày càng linh hoạt của mỗi thể loại công trình. Đá có ưu điểm là bền chắc, nhưng cũng có nhược điểm là tải trọng lớn, quy trình gia công chế tác phức tạp mất thời gian; đá chịu nén tốt nhưng chịu uốn kém nên không vươn được nhịp xa. Một trong những nhược điểm của đá chính là ưu điểm của nó: Độ bền (cũng đồng nghĩa với độ trơ, lỳ, ít thay đổi, khó cải tạo). Không phải lúc nào người ta cũng cần công trình và vật liệu phải bền đến mức ấy.

Tuy nhiên đá không hoàn toàn biến mất khỏi các công trình kiến trúc hiện đại. Bây giờ ít công trình hoàn toàn bằng đá, nếu có thường là công trình biểu tượng. Đá vẫn tham gia vào kiến trúc với nhiều vai trò, chức năng khác nhau và không thể thiếu: Đá (và cả sỏi) có thể tham gia làm cốt liệu cho kết cấu (bê tông), có thể trực tiếp tham gia chịu lực. Sỏi đá có thể sử dụng ốp lát, đóng vai trò là vật liệu che phủ bề mặt và quyết định thẩm mỹ bề mặt. Sỏi đá cũng có thể được sử dụng sắp xếp trang trí để tạo hiệu quả thị giác, thẩm mỹ. Và đá vẫn được dùng làm điêu khắc và được coi như một chất liệu quý nhất!…

Đá vẫn song hành cùng công trình kiến trúc và đem lại sức sống, gợi cảm cho kiến trúc.

Tháp Bút, còn gọi là Cây bút đá – Một công trình biểu trưng của Thăng Long – Hà Nội (ảnh trái)

Bia đá Tiến sỹ trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội (ảnh phải)

Trẻ con bây giờ thì không nói làm gì (vì không thể biết), nhưng với tôi và rất nhiều người khác, ký ức tuổi thơ gắn liền với những viên sỏi. Sỏi cũng là đá thôi, đó là những viên đá nhỏ bị bào mòn, trơn nhẵn. Những thứ gọi là đồ chơi hầu như tất cả đều là tự nhiên: Sỏi đá, cành cây, quả, hoa, các con vật – côn trùng… Những viên sỏi gắn với nhiều trò chơi, những viên sỏi vẫn lăn tròn trong ký ức. Sỏi là công cụ để chơi Ô ăn quan, một trò chơi nổi tiếng đã đi vào tác phẩm lừng danh của một họa sỹ thuộc thế hệ đầu tiên của nền mỹ thuật Việt Nam (*). Tôi vẫn nhớ trò chơi ấy, nhớ đến day dứt những viên sỏi nhỏ, sỏi to; và ô chơi vẽ bằng phấn, bằng gạch non nguệch ngoạc trên nền đất, nền xi măng. Sỏi để chơi rải gianh – trò chơi sấp ngửa bàn tay để “ăn” những viên sỏi. Sỏi để làm đạn súng cao su, sỏi để dùng các-tút xoáy thành những viên bi tròn xoe… Và có một trò chơi, như nhắc lại một sự tiến bộ vượt bậc của loài người, ấy là kiếm bằng được hai viên đá cuội, đập vào nhau cho khét mù, tóe lửa. Đó cũng là cách mang lửa theo khi mà bật lửa hay diêm ngày ấy cũng không dễ kiếm. Khói thơm rơm rạ ngoài cánh đồng từ đó mà ra…

Trong truyện “Hương cuội” của nhà văn Nguyễn Tuân, có một chi tiết rất thú vị. Ấy là cụ Kép (nhân vật chính trong truyện) dùng những viên cuội được rửa thật sạch, bọc mạch nha bên ngoài để làm đồ thưởng cùng rượu trong bàn rượu Thạch lan hương. Hình ảnh những cụ già uống rượu ngắm hoa lan, và “mỗi cụ đều bỏ vào mồm những viên kẹo mạch nha đá cuội ướp hương lan. Những nhân đá đánh vào răng kêu lách cách…” (**) cho thấy sự tinh tế của nhân vật – cũng là của tác giả. Những hòn sỏi cuội vô tri trở nên có hồn.

Đá được đưa vào nội thất để giảm bớt sự nhàm chán của những mảng tường trơn phẳng
Dòng suối nhân tạo trong khuôn viên của kiến trúc. Sỏi là thành phần không thể thiếu

Bây giờ ít ai chơi sỏi. Sỏi cũng là đá nhưng có vẻ thiệt thòi hơn đá bởi vóc dáng và tính kém đa dạng của mình. Nhưng ai chơi sỏi rồi mới hiểu, mới nặng lòng với sỏi.

Trở lại với câu chuyện vật liệu sỏi đá và kiến trúc. Sỏi đá – tưởng như lạnh lẽo, vô tri mà hóa ra chẳng phải. Khi người ta phải phụ thuộc vào tự nhiên thì người ta thèm có cái được chủ động; nhưng khi có rồi người ta sẽ chán cái gì cứ khuôn mẫu và lặp lại. Vật liệu nhân tạo, có khéo làm đến mấy thì vẫn cứ lặp lại đến nhàm chán, vô hồn. Kiến trúc và chính con người đã bị công nghiệp hóa nên xu hướng tìm về thiên nhiên, tự nhiên là tất yếu. Những vật liệu sắt thép, nhôm kính, những vật liệu công nghiệp thẳng tắp, phẳng lì, trơn nhẵn đã làm cho người ta thấy sợ. Sỏi đá đã mang lại cảm giác thô mộc, giản dị mà vững chãi. Người ta cần tới sỏi đá như một sự trở về, một cái gì đó hoang sơ gần gũi, một chất cảm vật liệu theo đúng nghĩa.

Sỏi đá không phải là hàng công nghiệp, không phải là thứ sắp đặt theo quy tắc. Sỏi đá không bao giờ giống nhau – giữa cái này với cái kia, giữa lần trước với lần sau. Thế nên dùng sỏi đá, chơi sỏi đá phải là người có tâm hồn, hòa hợp với tinh thần sỏi đá.

Ấn tượng của sỏi với cả vai trò cốt liệu cho kết cấu và tính trang trí bề mặt

Giữa những bộn bề các loại vật liệu xây dựng, ngay cả sỏi đá cũng có biết bao nhiêu loại. Dùng đá, chơi sỏi sao cho khéo và hiệu quả cũng không phải dễ. Ít quá không hiệu quả, chưa “bõ”; nhiều quá thì hãy… coi chừng vì nhà có thể thành… nhà đá. Nhưng dẫu thế nào, sỏi đá vẫn là những thứ không thể thiếu trong công trình kiến trúc và cả trong đời sống.

Và sỏi đá cũng có linh hồn – “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (***)

KTS Nguyễn Trần Đức Anh

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2018)

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Chú thích

(*) – Tác phẩm “Chơi ô ăn quan” của họa sỹ Nguyễn Phan Chánh

(**) – Trích đoạn trong truyện ngắn “Hương cuội” của nhà văn Nguyễn Tuân

(***) – Ca từ trong ca khúc “Diễm xưa” của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.